Luyện gõ tự do
Chọn bài để luyện
20 bài thơ và đoạn văn nổi tiếng của Việt Nam, được chia theo độ dài để bạn tăng dần sức bền khi gõ.
Lọc chế độ
Chọn độ khó phù hợp với mục tiêu luyện tập.
Đang hiển thị 20 bài
Mức Dễ
Bắt đầu nhẹ nhàng
Bài 1 · 28 từ
Bánh trôi nước
Hồ Xuân Hương
Thân em vừa trắng lại vừa tròn, bảy nổi ba chìm với nước non. Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Bài 2 · 28 từ
Sông núi nước Nam
Lý Thường Kiệt
Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm? Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Bài 3 · 24 từ
Nhớ rừng
Thế Lữ
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt, ta nằm dài trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ.
Bài 4 · 28 từ
Hầu trời
Tản Đà
Đêm qua chẳng biết có hay không, chẳng phải hoảng hốt không mơ màng. Thật hồn, thật phách, thật thân thể, thật được lên tiên sướng lạ lùng.
Bài 5 · 28 từ
Ca dao công cha nghĩa mẹ
Dân gian
Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Bài 6 · 28 từ
Ca dao nhớ quê
Dân gian
Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Mức Trung bình
Rèn nhịp độ ổn định
Bài 7 · 56 từ
Truyện Kiều
Nguyễn Du
Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong, trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.
Bài 8 · 56 từ
Qua Đèo Ngang
Bà Huyện Thanh Quan
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Dừng chân đứng lại trời non nước, một mảnh tình riêng ta với ta.
Bài 9 · 56 từ
Bạn đến chơi nhà
Nguyễn Khuyến
Đã bấy lâu nay bác tới nhà, trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu nước cả khôn chài cá, vườn rộng rào thưa khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Đầu trò tiếp khách trầu không có, bác đến chơi đây ta với ta.
Bài 10 · 56 từ
Thương vợ
Trần Tế Xương
Quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng, eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ âu đành phận, năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, có chồng hờ hững cũng như không.
Bài 11 · 56 từ
Câu cá mùa thu
Nguyễn Khuyến
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối buông cần lâu chẳng được, cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Bài 12 · 56 từ
Tự tình II
Hồ Xuân Hương
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, đâm toạc chân mây đá mấy hòn. Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, mảnh tình san sẻ tí con con.
Bài 13 · 54 từ
Cảnh ngày hè
Nguyễn Trãi
Rồi hóng mát thuở ngày trường, hòe lục đùn đùn tán rợp giương. Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, dân giàu đủ khắp đòi phương.
Bài 14 · 56 từ
Bài ca Côn Sơn
Nguyễn Trãi
Côn Sơn suối chảy rì rầm, ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong ghềnh thông mọc như nêm, tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Mức Khó
Thử thách sức bền
Bài 15 · 78 từ
Bình Ngô đại cáo
Nguyễn Trãi
Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có.
Bài 16 · 78 từ
Chiếu dời đô
Lý Công Uẩn
Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa.
Bài 17 · 78 từ
Hịch tướng sĩ
Trần Quốc Tuấn
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm.
Bài 18 · 84 từ
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Nguyễn Đình Chiểu
Vân Tiên ghé lại bên đàng, bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô. Kêu rằng bớ đảng hung đồ, chớ quen làm thói hồ đồ hại dân. Phong Lai mặt đỏ phừng phừng, thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây. Trước gây việc dữ tại mầy, truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng. Vân Tiên tả đột hữu xông, khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang. Lâu la bốn phía vỡ tan, đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Bài 19 · 85 từ
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Nguyễn Đình Chiểu
Hỡi ôi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ. Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Bài 20 · 83 từ
Phú sông Bạch Đằng
Trương Hán Siêu
Khách có kẻ: Giương buồm giong gió chơi vơi, lướt bể chơi trăng mải miết. Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương, chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt. Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, nơi có người đi đâu mà chẳng biết. Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều, mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết. Bèn giữa dòng chừ buông chèo, học Tử Trường chừ thú tiêu dao. Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều.